Hàng hóa thế giới sáng 4-4: Giảm sâu bởi số liệu yếu kém từ Mỹ

04/04/2013  

Số liệu về việc làm và dịch vụ của Mỹ gây nghi ngờ về sự hồi phục Hàng hóa theo chân chứng khoán giảm sâu, bất chấp USD giảm CRB giảm 1% trong phiên, giảm 2% từ đầu quý 2 Dầu thô Mỹ giảm xuống dưới 95 USD, giảm mạnh nhất kể từ tháng 11 Đồng thấp nhất 8 tháng, vàng thấp nhất 9 tháng


(VINANET) – Giá hàng hóa đồng loạt giảm tiếp trong phiên giao dịch 3-4 vừa qua (kết thúc vào rạng sáng 4-4 giờ VN) sau số liệu phát đi từ Hoa Kỳ cho thấy cả lĩnh vực việc làm và dịch vụ đều không được như mong đợi, gây nghi ngờ về sự hồi phục của cường quốc số 1 thế giới, đẩy giá dầu, kim loại và nông sản cùng giảm sau khi chứng khoán giảm trước đó.
Đồng USD giảm trở lại so với các đồng tiền chủ chốt khác, điều thường tạo cơ hội cho các nhà đầu tư mua những hàng hóa tính theo USD, nhưng trong phiên vừa qua lại thể hiện rất ít mỗi quan hệ với hàng hóa. Ngay cả vàng – nơi thường được tìm đến để trú ẩn an toàn khi USD hay chứng khoán giảm giá, cũng tụt xuống mức thấp nhất 9 tháng.
Trong số các hàng hóa, dầu thô Mỹ giảm gần 3%, mức giảm mạnh nhất kể từ tháng 11. Đồng giảm khoảng 1%, sau khi chạm mức thấp nhất 8 tháng.
Lúa mì và cà phê arabica nằm trong số ít những hàng hóa lội ngược dòng tăng, với lúa mì tăng gần 4% và cà phê arabica tăng 2%. Tuy nhiên, điều này là bởi giá các hàng hóa này giảm mạnh hồi đầu tuần.
Bông cũng tăng giá phiên thứ 2 liên tiếp bất chấp số liệu từ Mỹ. Hợp đồng kỳ hạn tháng 5 giá tăng 0,35 US cent hay 0,4% lên 89,92 Uscent/lb.
Triển vọng nhu cầu sợi sẽ tăng. Lượng bông bán ra từ Mỹ gần đây rất mạnh, yếu tố đẩy giá bông tăng. Các nhà đầu tư đang quay lại với thị trường này sau khi giá tăng tới 18% trong quý 1.
Chỉ số giá nguyên liệu Thomson Reuters-Jefferies CRB, thước đo giá hàng hóa toàn cầu, giảm 1,3% với 13 trong số 19 hàng hóa giảm giá. Chỉ số này đã mất 2,2% chỉ trong 3 phiên đầu tiên của tháng 4.
Chỉ số chứng khoán Mỹ S&P 500 giảm khoảng 1% trong phiên, mặc dù vẫn gần ở mức cao kỷ lục.
Các báo cáo từ Mỹ cho t hấy số việc làm mới trong lĩnh vực tư nhân tháng 3 vừa qua ít hơn dự kiến. Chỉ số lĩnh vực dịch vụ cũng thấp hơn dự kiến.
Các nhà phân tích cho rằng thị trường sẽ tiếp tục căng thẳng cho đến khi chính phủ Hoa Kỳ công bố báo cáo đầy đủ về các số liệu kinh tế tháng 3, sẽ phản ánh chính xác hơn thị trường lao động cũng như kinh tế Mỹ.
Dầu thô giảm 2,8% trong phiên vừa qua, xuống 94,45 USD, sau số liệu của Mỹ cho thấy tồn trữ dầu thô cao nhất 23 năm. Số liệu về việc làm và lĩnh vực dịch vụ yếu của Mỹ càng gây lo ngại về nhu cầu năng lượng của nước tiêu thụ dầu lớn nhất thế giới này.
Tồn trữ dầu tăng quá mạnh át đi những ảnh hưởng từ thông tin tồn trữ xăng Mỹ giảm nhẹ. Giá xăng giảm 4,2% lúc đóng cửa, xuống 2,9140 USD/gallon.
Dầu Brent tại London giảm 3,2% xuống 1097,11 USD/thùng.
Các thương gia cho biết giá dầu cũng được hỗ trợ bởi tin Iraq sẽ bị trừng phạt bởi các cường quốc trên thế giới nếu các cuộc thương lượng về nguyên tử tuần này tại Kazakhstan không có kết quả.
Đồng giảm xuống mức thấp nhất 8 tháng do lo ngại về tăng trưởng kinh tế gây nghi ngờ về triển vọng nhu cầu kim loại cơ bản trên toàn cầu.
Các nhà đầu tư cũng giãn tiến độ mua bán trước 2 ngày nghỉ lễ sắp tới của Trung Quốc- thị trường đồng lớn nhất thế giới.
Đồng tham chiếu tại London đóng cửa ở mức giá 7.386,5  USD/tấn, giảm từ7.465 USD/tấn phiên trước đó. Trong phiên vừa qua có lúc giá xuống chỉ 7.375USD/tấn, thấp nhất kể từ 16-8.
Nhôm cũng giảm xuống thấp nhất 7 tháng, chì thấp nhất 5 tháng và nickel thấp nhất 4 tháng.
Giá hàng hóa thế giới

Hàng hóa

ĐVT

Giá

+/-

+/-(%)

So với đầu năm (%)

Dầu thô WTI

USD/thùng

94,37

-2,82

-2,9%

2,8%

Dầu thô Brent

USD/thùng

107,19

-3,50

-3,2%

-3,5%

Khí thiên nhiên

USD/gallon

3,900

-0,069

-1,7%

16,4%

Vàng giao ngay

USD/ounce

1552,80

-22,30

-1,4%

-7,3%

Vàng kỳ hạn

USD/ounce

1556,75

-18,49

-1,2%

-7,0%

Đồng Mỹ

US cent/lb

333,30

-4,55

-1,3%

-8,7%

Đồng LME

USD/tấn

7388,00

-77,00

-1,0%

-6,8%

Dollar


82,711

-0,219

-0,3%

7,7%

Ngô Mỹ

US cent/bushel

641,50

1,00

0,2%

-8,1%

Đậu tương Mỹ

US cent/bushel

1380,25

-13,75

-1,0%

-2,7%

Lúa mì Mỹ

US cent/bushel

696,50

25,75

3,8%

-10,5%

Cà phê arabica

US cent/lb

139,45

3,30

2,4%

-3,0%

Cacao Mỹ

USD/tấn

2150,00

-21,00

-1,0%

-3,8%

Đường thô

US cent/lb

17,50

-0,09

-0,5%

-10,3%

Bạc Mỹ

USD/ounce

26,797

-0,451

-1,7%

-11,3%

Bạch kim Mỹ

USD/ounce

1539,80

-32,00

-2,0%

0,1%

Palladium Mỹ

USD/ounce

755,45

-13,95

-1,8%

7,4%

(T.H – Reuters)
    Tên của bạn *
    Email người nhận *
    Thông điệp của bạn